Đồng bào dân tộc Mông ở Nà Hẩu dùng tri thức bản địa đề bảo vệ tài nguyên rừng theo hướng phát triển bền vững
3/19/2026 4:46:00 PM
(VACNE) - Đến hẹn lại lên, cứ vào ngày cuối cùng của tháng Giêng âm lịch hàng năm, đồng bào dân tộc Mông ở xã Tân Hợp, tỉnh Lào Cai lại nô nức tập trung tại các thôn Ba Khuy, Nà Hẩu và Bản Tát để tổ chức Lễ cúng rừng hay còn gọi Tết rừng, nơi còn lưu giữ những cánh rừng thiêng với nhiều cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi.
Việt Nam là đất nước đa dân tộc, với 54 dân tộc anh em. Dân tộc nào cũng có tri thức bản địa được hình thành trong đời sống và lao động, sản xuất. Tri thức bản địa là những kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng được tổng kết từ thực tiễn, được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ dân tộc này sang dân tộc khác, từ cộng đồng này sang cộng đồng khác. Tri thức bản địa của các dân tộc Việt Nam phong phú, đa dạng và có ý nghĩa to lớn, bao gồm: (i) Quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên: tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khí hậu, tài nguyên rừng, tài nguyên biển, tài nguyên khoáng sản…; (ii) Quan hệ xã hội: dòng họ, gia đình, láng giềng, vợ chồng, tình yêu…; (iii) Lao động, sản xuất: trồng cấy, chăm sóc, thu hoạch, chế biến, bảo quản…; (iv) Dự báo thời tiết: gió bão, mưa lũ, sạt lở đất, lũ ống, lũ quét…; (v) Dùng thuốc nam chữa bệnh: đau lưng, tim mạch, cảm cúm, đau bụng, gan mật, thận, mất sữa…
Năm nhóm trí thức bản địa của các dân tộc Việt đều giữ vai trò quan trọng trong đời sống cộng đồng, trong đó có nhóm quản lý, bảo vệ, phát triển tài nguyên rừng theo hướng phát triển bền vững.
Từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn, chúng tôi cho rằng, Mẹ Thiên Nhiên, đã ban cho tài nguyên rừng, ngay từ những ngày đầu xuất hiện trên Trái Đất, một khả năng ưu việt là tái tạo để phát triển bền vững trong tự nhiên. Tài nguyên rừng cũng như các loại tài nguyên tái tạo được trong tự nhiên đều tuân theo quy luật Tương sinh và Tương khắc. Cổ nhân ta đã dạy: “Vạn vật hữu linh, tương sinh, tương khắc”. Câu nói này có nghĩa tương đồng là: Mẹ Thiên Nhiên sinh ra hàng trăm loài cùng sinh sống trong môi trường rừng. Các loài đều có mối quan hệ cộng sinh với nhau, phụ thuộc vào nhau. Các loài, dù là động vật hay thực vật đều có “tình cảm” gắn bó mật thiết với nhau và với con người. Mặt khác, các loài ở trong rừng đều tuân theo quy luật, mối quan hệ Tương sinh, Tương khắc, Phản sinh, Phản khắc. Đây chính là sự chuyển hóa, giao thoa giữa Trời và Đất, góp phần tạo nên những mối liên hệ, sự tác động lẫn nhau các loài, giúp cho tài nguyên rừng tồn tại và phát triển. Hai yếu tố Trời và Đất trong môi trường rừng không tồn tại độc lập với nhau, trong Tương sinh luôn có mầm mống của Tương khắc, ngược lại trong Tương khắc luôn tồn tại mầm mống Tương sinh. Đây là nguyên lý cơ bản để duy trì sự sống của mọi sinh vật, kể cả con người ở trong môi trường rừng.
Từ nghiên cứu thực tế, chúng tôi cho rằng, tài nguyên rừng Việt Nam được kết tinh bởi cái hữu duyên do Mẹ Thiên Nhiên ban cho mảnh đất hình chữ S một loại tình yêu đặc biêt, có một không hai. Đó chính là tình Người – Cây và Đất. Người – Cây và Đất không bao giờ tách rời nhau, luôn gắn bó với nhau như hình với bóng, luôn thống nhất trong mối quan hệ Tương sinh, Tương khắc trong hệ sinh thái rừng. Đất rừng không có con người và không có cây thì đất chỉ là đất. Còn có con người và cây thì đất rừng mới hóa tâm hồn.
Tài nguyên rừng là một phần của tài nguyên thiên nhiên, thuộc loại tài nguyên tái tạo được. Nhưng nếu sử dụng không hợp lý, tài nguyên rừng có thể bị suy thoái không thể tái tạo lại (rừng nguyên sinh bị tàn phá). Tài nguyên rừng có vai trò rất quan trọng đối với khí quyển, đất đai, mùa màng, cung cấp các nguồn gen động thực vật quý hiếm cùng nhiều lợi ích khác. Rừng giúp điều hòa nhiệt độ, nguồn nước và không khí. Con người có thể sử dụng tài nguyên rừng để khai thác, sử dụng hoặc chế biến ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu đời sống.
Đứng bên bảng trích câu nói nổi tiếng của Bác Hồ, ông Phạm Tiến Thịnh, Giáo đốc HTX Dược liệu và Du lịch Nà Hẩu xanh nói: “Bác Hồ là người nhìn xa, trông rộng, đã nêu lên quan điểm minh triết về bảo vệ rừng vàng, để tài nguyên rừng cùng với tài nguyên biển mãi mãi xanh tươi”.
Từ tâm sự của ông Thịnh, chúng tôi cho rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh có khát vọng bảo vệ môi trường thiên nhiên xanh tươi nói chung và khát vọng bảo vệ tài nguyên rừng bền vững nói riêng. Đó là khát vọng của thời đại, khát vọng của Người mong muốn Việt Nam phát triển bền vững theo xu hướng xanh hóa và các dân tộc anh em được sống trong sự hài hòa với môi trường thiên nhiên. Khát vọng thời đại của Bác Hồ bao hàm những nhận thức, kiến thức, quan niệm của Người về tầm quan trọng của tài nguyên rừng đối với đất nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, muốn bảo vệ môi trương thiên nhiên, trước hết phải bảo vệ rừng: “Rừng là vàng nếu mình biết bảo vệ, xây dựng thì rừng rất quý” . Câu nói của Người chỉ gồm 14 từ, nhưng đã thể hiện rõ quan điểm về tầm quan trọng không thể thay thế của rừng. Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã chỉ rõ, rừng là nơi khởi nguồn của các dân tộc Việt, rừng là lá phổi xanh, rừng là tấm áo giáp chắn gió bão, chắn sóng, chắn cát xâm lấn, rừng là tấm thảm xanh phủ trên mặt đất; rừng là nơi lưu giữ sự đa dạng sinh học và là nơi nghiên cứu khảo cố để làm rõ lịch sử ra đời của dân tộc Việt Nam; rừng cung cấp các loại sản phẩm nuôi sống con người và phục vụ cho sự phát triển đất nước; rừng là thủ đô kháng chiến, rừng là chiến khu kháng chiến, rừng là “vũ khí” hữu hình “che bộ đội, vây quân thù”…Chính vì hiểu rõ tầm quan trọng không thể thay thế của rừng đối với sự phát triển bền vững Đất nước nên Chủ tịch Hồ Minh Minh khẳng định, đó là loại vàng đặc biệt mà Mẹ Thiên Nhiên đã ban tặng cho dân tộc Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ quan niệm vai trò to lớn của rừng, mà Người còn quan niệm, muốn duy trì, phát triển loại vàng đó cần có sự chung tay bảo vệ của mọi người dân. Vế thứ hai trong lời dạy của Bác Hồ: “nếu mình biết bảo vệ, xây dựng thì rừng rất quý”. Quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện mối quan hệ biện chứng thống nhất giữa vai trò quan trọng của rừng với sự chăm sóc bảo về rừng của Nhân dân, đúng với kinh nghiệm hàng ngàn năm của dân tộc: “Công làm là công bỏ, công làm cỏ là công ăn”. Theo quan niệm của Người, rừng chỉ quý, một khi có sự xây dựng, bảo vệ của các dân tộc Việt Nam. Một lần nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu quan điểm về quy luật phát triển những yếu tố của môi trường thiên nhiên với những yếu tố của môi trường xã hội. Quan điểm đúng đắn của Người sẽ làm cho rừng mãi mãi xanh tươi, mãi mãi là loại vàng quý của dân tộc, góp phần quan trọng vào bảo vệ môi trường thiên nhiên và ứng phó với biến đổi khí hậu cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mặt khác, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh trồng cây gây rừng là ích nước, lợi nhà, là sự kết nối xanh tươi giữa các vùng miền, giữa các giai cấp, giữa các dân tộc, giữa các thế hệ, giữa các lực lượng xã hội, giữa các tôn giao.
Ông Phạm Tiến Thịnh cho rằng: “Người Mông ở Nà Hẩu không chỉ biết vận dụng tri thức bản địa, mà còn biết học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy nhằm bảo vệ Tai nguyên rừng phát triển theo hướng bền vững. Cụ thể sinh động nhất là Lễ cúngRừng hay còn gọi là Tết rừng”.
Nghi lễ cúng rừng ở Nà Hẩu, xã Tân Hợp, tỉnh Lào Cai là loại tri thức bản địa của người Mông có từ lâu đời đã dược trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, được giữ gìn và phát triển bền vững, nhất là trong thời kỳ đổi mới đất nước. Mặt khác, người Mông ở đây đã học tập và làm theo lời dạy của Bác Hồ nhằm bảo vệ tài nguyên rừng theo hướng phát triển bền vững.
Nghi lễ cúng rừng hay còn gọi là Tết rừng của người Mông tại Nà Hẩu được tổ chức vào những ngày cuối tháng Giêng âm lịch hàng năm tại các khu rừng thiêng. Đây là nét văn hóa độc đáo, đặc sắc, thể hiện sự tôn thờ Thần đất, Thần nước, Thần rừng, Thần cây…
Nà Hẩu nằm trong vùng lõi của Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, với diện tích tự nhiên hơn 5.640ha, trong đó rừng tự nhiên đặc dụng hơn 4.500ha. Toàn thôn có hơn 500 hộ dân với hơn 2.500 nhân khẩu; 100% là người dân tộc thiểu số; người Mông chiếm trên 90% dân số, chủ yếu sinh sống tại 3 thôn là Ba Khuy, Trung Tâm, Bản Tát. Dù cuộc sống của đồng bào còn nhiều khó khăn, nhưng luôn đồng lòng gìn giữ bảo vệ rừng bằng những tri thức bản địa được truyền từ đời này sang đời khác.
Người dân ở đây quan niệm rằng, rừng là nơi trú ngụ của các vị thần, trong đó có Thần rừng nên hàng năm, cộng đồng người Mông tổ chức nghi lễ để thờ cúng Thần rừng, cầu cho một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cây cối tốt tươi, cầu sức khỏe và người người, nhà nhà được yên vui, ấm no và hạnh phúc.
Lễ hộiTết rừng của đồng bào dân tộc Mông Nà Hẩu xưa kia được gọi là lễ cúng rừng, đã có từ khi người Mông di cư đến Nà Hẩu lập làng, lập bản và trở thành nét sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng dân gian, tạo ra sắc thái văn hóa đặc sắc riêng của người Mông nơi đây. Theo truyền thống, Tết rừng Nà Hẩu sẽ được tổ chức tại 3 khu vực rừng thiêng của 3 thôn: Ba Khuy, Trung Tâm và Bản Tát.
Nghi lễ cúng rừng được thực hiện trên rừng, tại khu rừng có địa thế đẹp nhất, nơi có nhiều cây cổ thụ lớn, được gọi là rừng thiêng. Lễ cúng rừng được thực hiện tai nơi hội tụ đầy đủ của ba loại Linh khí là: Thiên khí, Địa khí và Nhân khí hòa hợp. Tại Nà Hẩu, mỗi thôn đều có một khu rừng cấm – rừng thiêng, nơi có rất nhiều loại cây to, có những cây hàng trăm năm tuổi.
Lễ cúng rừng mở đầu bằng phần rước lễ vật lên khu rừng cấm. Nghi thức rước lễ được thực hiện trong không khí trang nghiêm, mang ý nghĩa thiêng liêng với ngụ ý báo cáo với Thần rừng và đất trời chứng giám cho việc cộng đồng dân cư tổ chức Tết rừng. Hoạt động này đã phản ánh rõ nét các hình thức sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng dân gian của đồng bào người Mông; thể hiện sâu sắc tính cộng đồng trong tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp, đồng thời tạo sự phong phú, hấp dẫn của các hoạt động văn hóa dân gian trong Tết rừng.
Lễ vật để dâng cúng Thần rừng gồm một cặp gà trống - mái, một con lợn đen hoặc vàng, rượu, hương, giấy bản… Đến giờ lành, Thầy cúng của bản kính cẩn dâng hương, gõ mõ bốn phương, 8 hướng và khấn mời Thần rừng về hưởng lễ vật, phù hộ, che chở, ban lộc rừng cho người dân; cầu cho mưa thuận gió hòa, cây cối tốt tươi, mùa màng bội thu… Nghi lễ cúng rừng gồm 2 phần: Cúng sống và cúng chín.
Đối với phần cúng sống, sau khi xếp lễ vật, thầy Mo bắt đầu thổi một hồi tù và báo hiệu lễ cúng bắt đầu. Thầy Mo vừa cúng vừa gõ mõ quay theo bốn hướng, từ Đông sang Tây, vừa gõ vừa khấn bằng tiếng Mông. Tiếp đó, thầy Mo bắt hai con gà sống, con gà trống màu trắng để bên phải, con gà mái màu đen hoặc vàng ở bên trái đầu quay vào bàn thờ. Theo quan niệm của đồng bào Mông thì con gà trống màu trắng thể hiện cho sự trong trắng tinh khiết thờ Thần nước, con gà mái màu đen hoặc vàng như màu của đất thờ Thần đất, Thần cây. Sau lễ tế gà sống, thầy cúng gõ mõ để báo hiệu tiếp tục lễ tế lợn sống.
Kết thúc phần lễ cúng sống, các phụ lễ mang gà và lợn làm thịt, sắp đồ lễ chín chuẩn bị cho phần cúng chín. Nghi lễ cúng chín mang ý nghĩa tiễn đưa Thần rừng sau khi chứng kiến tấm lòng thành của dân bản. Sau khi những lễ vật cúng tế đã chế biến xong, thầy Mo lại tiếp tục cúng chín. Trong nghi lễ cúng chín, mâm lễ vật gồm hai con gà đã luộc chín, thủ lợn luộc chín.
Sau khi cúng xong, phụ lễ hạ các lễ vật, còn Thầy mo đốt tiền mã rồi gõ ba hồi mõ và thổi ba hồi tù và báo hiệu Lễ cúng rừng đã kết thúc, đồng thời tiễn đưa các vị thần linh về nơi trú ngụ. Tại các điểm cúng rừng, thầy Mo và người dân trải lá cùng ngồi xuống để họp làng, đánh giá tình hình bảo vệ rừng năm qua và cùng thề ước giữ rừng. Sau khi thực hiện nghi thức thề giữ rừng, Trưởng thôn và nhân dân bầu ra Tổ tự quản bảo vệ rừng năm mới (trước đây người Mông gọi là chủ rừng) của thôn, gồm: 4 người đàn ông là những người mạnh mẽ, am hiểu về cây rừng và hiểu tập quán của bà con trong thôn. Bốn người này sẽ làm việc: Cắm mốc các vị trí rừng để cấm rừng cũng như bảo vệ rừng trong thời gian tới. Ngoài ra, ở đây người Mông còn có nghi lễ ăn thề, với cam kết sẽ bảo vệ rừng trong thời gian 1 năm. Sau đó, hết một năm cộng đồng sẽ tổ chức bình xét, bình chọn, biểu dương và bầu ra lực lượng tổ bảo vệ rừng mới để thực hiện tốt công tác bảo vệ rừng trong thời gian tới.
Sau khi bầu xong tổ tự quản của năm, tại điểm cúng rừng, nhân dân sẽ cùng nhau hát ca, chơi các trò chơi dân gian và tổ chức ăn tết trên rừng. Kể từ ngày làm lễ cúng Rừng, 3 ngày sau, người dân nơi đây có tục kiêng lên rừng, kiêng hái lá, đào bới đất, kiêng phơi quần áo ngoài giọt gianh mái nhà. Trong thời gian này, mọi người không được vào rừng hái rau xanh. Trong thời gian kiêng lên rừng mà người dân phát hiện ra một ai đó vi phạm những điều cấm đã được cam kết thì sẽ bị Tổ tự quản xử lý vi phạm. Tục phạt là người vi phạm phải nộp 1 con lợn, 1 đôi gà cúng, mời một số thành phần trong thôn hoặc mời cả làng ăn cùng. Do đó, từ những ngày trước lễ, nhân dân đã chuẩn bị sẵn đầy đủ lương thực, thực phẩm để phục vụ cho 3 ngày kiêng không vào rừng. Nghi lễ này như tổ chức tuần hoặc tháng
Lễ cúng rừng của người Mông ở Nà Hẩu, xã Tân Lợi, tỉnh Lào Cai được Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia. Lễ cúng rừng không chỉ có ý nghĩa đối với bảo vệ tài nguyên rừng theo hướng phát triển bền vững và bảo tồn đa dạng sinh học rừng, mà còn có ý nghía sâu sắc đối với giáo dục các cộng đồng dân tộc, nhất là giáo dục thế hệ trẻ tình yêu và có trách nhiệm bảo vệ môi trường thiên nhiên nói chung và tài nguyên rừng nói riêng. Lễ cúng rừng của người Mông ở Nà Hẩu càng có ý nghĩa hơn trong bối cảnh suy giảm đa dạng sinh học và biến đổi khí hậu. Tri thức bản địa của người dân ở Nà Hẩu cần được phổ biến, nhân rộng trong các cộng đồng có rừng./.
.jpg)
Cửa vào rừng ở Nà Hẩu, xã Tân Hợp, tỉnh Lào Cao được trang trí để đón Lễ cúng Rừng. Ảnh Tư liệu.
.jpg)
Điểm cúng Rừng ở thôn Bản Tát là một trong 3 điểm tổ chức Lễ cúng rừng. Ảnh tư liệu.
.jpg)
Tối ngày 17/3/2026, xã Tân Lợi, tỉnh Lào Cai long trọng tổ chức Khai mạc Lễ cúng Rừng. Đến dự có các động chí lãnh đạo tỉnh Lào Cai, xã Tân Lợi và các xã lận cận, với hàng nghìn người dân đến dự. (Ảnh Bùi Thị Thanh Thủy).
.jpg)
Nghi thức rước ảnh Bác Hồ mở đầu cho buổi Lễ cúng Rừng ở Nà Hẩu, xã Tân Lợi, tỉnh Lào Cai.
.jpg)
Hàng trăm người dân đến dự tại điểm cúng rừng ở thôn Bản Tát, xã Tân Lợi, tỉnh Lào Cai, ngày 18/3/2026. Mọi người hân hoan múa hát, thổi khèn chúc mừng ngày hội linh thiêng của thôn. Ảnh Bùi Thị Thanh Thủy
.jpg)
Lễ trao giải cuộc thi chạy việt dã “Khám phá đại ngàn” chúc mừng ngày hội cúng Rừng ở thôn Bản Tát. Theo ban tổ chức, có trên 100 vận động viên không chuyên tham gia, có nhiều người ở thành phố Yên Bái, thành phố Lào Cai, thành phố Vĩnh Yên (Phú Thọ) tham gia. Ảnh Bùi Thị Thanh Thủy.
.jpg)
Thầy Mo chuẩn bị lễ vật trong Lễ cúng Rừng, tại thôn Bản Tát, vào lúc 9 g, ngày 18/3/2026. Ảnh Bùi Thị Thanh Thủy.
.jpg)
Thầy Mo gõ mõ mời Thần Rừng chứng giám nghi Lễ cúng Rừng tại thôn Bản Tát, ngày 18/3/2026. Ảnh Bùi Thị Thanh Thủy.
.jpg)
Đôi gà, gà trống màu trắng, gà mái màu đen được dâng cúng Thần rừng, ngày 18/3/2026. Ảnh Thanh Sơn, Báo Nhân dân điện tử.
.jpg)
Sau Lễ cúng Rừng ngày 18/3/2026, người dân giơ tay thề chung tay bảo vệ rừng. Ảnh Thanh Sơn, Báo Nhân dân điện tử.
Tiến sĩ, Nhà văn Trần Văn Miều và Nhà báo Bùi Xuân Mạc, Ban Truyền thông môi trường, VACNE
Lượt xem : 22